ĐỘNG LỰC HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CỦA SINH VIÊN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘNG LỰC HỌC TẬP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

 

ĐỘNG LỰC HỌC TẬP MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH CỦA SINH VIÊN: THỰC TRẠNG VÀ GIẢI PHÁP NÂNG CAO ĐỘNG LỰC HỌC TẬP ĐẢM BẢO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Trần Bảo Nguyên

Bộ môn GDQP, Trường Đại học An Giang

Trong bối cảnh hội nhập quốc tế là xu hướng khách quan, đang diễn ra ngày càng mạnh mẽ ảnh hưởng sâu rộng đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong đó ngành giáo dục cũng đang chịu sự tác động không nhỏ là vấn đề tất yếu và nó tác động trực tiếp đến con người. Quá trình hội nhập quốc tế diễn ra đã đặt cho nền giáo dục tri thức cao những đòi hỏi: về sự sáng tạo, ứng dựng yếu tố khoa học kỹ thuật vào sản xuất và nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho xã hội. Từ đó, nền giáo dục thế giới nói chung và giáo dục Việt Nam nói riêng cần có sự chuẩn bị, sự đổi mới để có thể thích ứng với những biến đổi nhanh chóng của quá trình toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế.

Nhận thấy được tầm quan trọng và nhu cầu thực tiển xã hội, trong những năm qua, Đảng, nhà nước, bộ ngành, các tồ chức giáo dục luôn quan tâm sâu sát, chỉ đạo quyết liệt, đồng thời có sự đầu tư thích đáng, tích cực đổi mới tư duy trong quá trình thực hiện các hoạt động về: đào tạo, bồi dưỡng nguồn giảng viên chất lượng cao, đổi mới chương trình, nội dung giáo dục cho phù hợp, tập huấn, đề xuất các phương pháp giảng dạy mới, hiệu quả hơn. Bên cạnh đó, việc xây dựng ý thức học tập, khơi dậy tính tích cực chủ động của người học, tổ chức, định hướng người học tìm tòi, nghiên cứu ứng dụng lý luận vào thực tiển đang được thực hiện nghiêm túc, khẩn trương trong bối cảnh nền giáo dục chuyển dần từ đào tạo niên chế sang đào tạo theo tín chỉ, nhằm đạt được mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo, đây luôn là định hướng, là mục tiêu trọng tâm, xuyên xuốt mà các cơ sở giáo dục để nhắm đến.

Đại hội XII của Đảng xác định đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục, đào tạo, phát triển nguồn nhân lực là một trong mười ba định hướng phát triển lớn để hiện thực hoá mục tiêu phấn đấu sớm đưa nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nội dung quan điểm của Đại hội là bước phát triển mới trong tư duy lý luận của Đảng ta về giáo dục và đào tạo. Đại hội XII tiếp tục khẳng định: "Giáo dục là quốc sách hàng đầu. Phát triển giáo dục và đào tạo nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài. Chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; học đi đôi với hành, lý luận gắn với thực tiễn. Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội, xây dựng và bảo vệ tổ quốc, với tiến bộ khoa học - công nghệ, yêu cầu phát triển nguồn nhân lực và thị trường lao động".

Nâng cao chất lượng giáo dục luôn là nhiệm vụ hàng đầu được đặt ra cho các trường, các tổ chức hoạt động trong lĩnh vực giáo dục. Hiện nay, về phía nhà trường, giảng viên luôn dành nhiều nguồn lực để đầu tư cho việc nghiên cứu cải tiến, đổi mới để đảm bảo trong quá trình dạy học người giảng viên phát huy được hết vai trò của người dạy, truyền đạt hiệu quả tri thức, còn người học có thể lĩnh hội được tri thức một cách tốt nhất, hình thành được nền tảng kiến thức vững chắc, cảm thấy có động lực học tập, nghiên cứu, quan trọng hơn hết là làm thỏa mãn nhu cầu học tập, tiến tới chất lượng giáo dục ngày càng được nâng cao.

Trong nghiên cứu của Trương Thị Thúy Hòa về động cơ học tập của sinh viên cũng đã khẳng định: "Động cơ học tập là yếu tố quan trọng có tác động mạnh mẽ đến chất lượng học tập, nếu có được động cơ học tập thì sẽ tạo ra một động lực lớn thúc đẩy cá nhân say sưa, miệt mài, tích cực khám phá và sáng tạo để hoạt động học tập trở nên tốt hơn". Một nghiên cứu khác cũng về động lực học tập, để công tác đảm bảo chất lượng giáo dục thì Phan Hữu Tín và Nguyễn Thúy Quỳnh Loan cũng đã đề xuất một giải pháp trong nghiên cứu của họ đó là tạo động lực học tập, phải tìm hiểu nhu cầu và nguyện vọng học tập của sinh viên. Nghiên cứu của Nguyễn Thùy Dung, Phan Thị Thục Anh về "Những nhân tố tác động đến động lực học tập của sinh viên: Nghiên cứu tại một trường đại học ở Hà Nội" đã khẳng định rằng chất lượng giảng viên, môi trường học tập, điều kiện học tập, các hoạt động hỗ trợ sinh viên trong học tập có tác động tích cực lên động lực học tập của họ nếu các yếu tố này không được thỏa mãn thì người học sẽ không có động lực học tập. Theo PGS.TSKH Nguyễn Đình Luận để đảm bảo và nâng cao chất lượng giáo dục thì các điều kiện cần có là thầy giỏi, giáo trình, phương tiện học tập đầy đủ, trò ham học. Cùng với nhiều nghiên cứu khác về động lực học tập của nhiều nhà khoa học đã cho thấy muốn nâng cao chất lượng đào tạo thì một yếu tố quan trọng không thể bỏ qua đó là tạo động lực học tập cho người học.

Như vậy, chúng ta cần phài tìm hiểu động lực học tập là gì? Động lực học tập là một vấn đề quan trọng có ảnh hưởng đến thái độ và kết quả học tập của sinh viên (Cole và Chan, 1994). Kết quả học tập sẽ biểu hiện cho chất lượng của quá trình dạy và học, nay nói cách khác nhìn vào kết quả học tập sẽ có thể đánh giá được chất lượng đào tạo. Hay một khái niệm khác đó là: Động lực học tập là khao khát, mong muốn, hào hứng, cảm thấy có trách nhiệm và đầy nhiệt huyết trong quá trình học tập (Bomia et al., 1997), là sự nỗ lực cố gắng để hoàn thành có kết quả một công việc nào đó (DuBrin, 2008). Vì thế, động lực học tập có ảnh hưởng lớn đến thái độ học tập, từ đó dẫn đến kết quả học tập của sinh viên cũng như chất lượng đào tạo và luôn là mối quan tâm lớn của những người làm giáo dục. Riêng đối với đội ngũ giảng viên giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQP và AN) việc quan sát, theo dõi, đánh giá được động lực học tập cảu sinh viên đối với môn học luôn được quan tâm thực hiện, là vấn đề trăn trở vì nó có tác động rất lớn đến hiệu quả, sự thành công và chất lượng trong giảng dạy.

Môn học GDQP và AN là môn học bao gồm kiến thức khoa học xã hội, nhân văn, khoa học tự nhiên và khoa học kĩ thuật quân sự và thuộc nhóm các môn học chung, cung cấp cho người học nhiều lý luận và các thực tiển bổ ích, có tỉ lệ lý thuyết chiếm trên 70% chương trình môn học. Môn học GDQP và AN hiện đang được giảng dạy ở tấc cả nhà trường từ bậc phổ thông cho đến đại học, cùng với sự quan tâm, chỉ đạo của Đảng, nhà nước trong công tác GDQP và AN cho sinh viên cho thấy môn học có vị trí, vai trò khá quan trọng, là điều kiện cho thế hệ trẻ tu dưỡng phẩm chất đạo đức và rèn luyện năng lực thực tế, là một giải pháp hiệu quả, có tác động rất lớn đối với sự thành công trong quá trình thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược của đất nước đó là: Xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa. Giáo dục quốc phòng - an ninh cho học sinh, sinh viên là một trong những nhiệm vụ quan trọng góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục toàn diện. Nhưng do nhiều nguyên nhân khách quan và chủ quan từ hai phía người dạy, người học, chất lượng dạy và học môn GDQP và AN trong nhà trường hiện nay còn bị xem nhẹ, chưa được đầu tư đúng mức, nên không thể phát huy hết nhiệm vụ, chức năng đối với xã hội.

Thông qua khảo sát ý kiến của sinh viên đang tham gia học tập các học phần của môn GDQP và AN ở trường Đại học An Giang thì đa số đáp viên đều cho rằng họ đang gặp phải một số khó khăn khi học môn học này và những khó khăn này có gắn bó, sự tác động đến động lực học tập của họ, cụ thể là:

Thứ nhất, về nội dung môn học, sinh viên cho rằng nội dung chưa phù hợp (chưa phù hợp ở đây có thể hiểu là: không phù hợp với nhu cầu, trình độ người học, không phù hợp với ngành nghề đang theo học, không phù hợp với những gì thực tế đang diễn ra), chương trình giàng dạy còn nặng về lý thuyết thiếu các nội dung thực hành kỹ năng (70% là các chuyên đề lý thuyết), còn mang tính lý luận, giáo điều cao, thiếu tính thực tiễn, còn quá trừu tượng. Trong khi đó, sinh viên lại cho rằng họ cần nhiều hơn những kiến thức thực tế, cần có các kỹ năng để có thể đánh giá vấn đề xã hội liên quan đến nội dung môn học, kỹ năng vận dụng các thuyết cũng như nội dung thực hành quân sự của môn học một cách hiệu quả vào đời sống. Dường như người dạy và người học chưa tìm ra được mục tiêu chung về nội dung.

Thứ hai, phương pháp giảng dạy cũng là một khó khăn gây trở ngại rất lớn trong quá trình học tập của sinh viên. Phương pháp giảng dạy hiện nay thiếu sự đổi mới và còn rập khuôn, mặc dù công nghệ thông tin đã được ứng dụng tích cực vào giảng dạy như là: hệ thống bài giảng điện tử đã được xây dựng, có sử dụng các thiết bị công nghệ để truyền đạt nội dung...nhưng vẫn không thể thoát khỏi phương pháp truyền thống, vẫn còn theo lối mòn cũ. Phương pháp truyền thống thì "thầy đọc - trò chép" còn hiện nay là "thầy trình chiếu - trò chép". Giảng viên trình bày nội dung, sinh viên nghe và ghi chép đó là tấc cả các hoạt động của một buổi học trên lớp hiện nay, thiếu tính giao lưu tri thức, gợi mở, đặt và giải quyết vấn đề, giảng viên chỉ chú tâm vào việc "nói" cho hết nội dung chưa thật sự quan tâm đến đối tượng đang học là ai, họ cần ở mình những gì,...nên buổi học còn khá đơn điệu và thụ động. Chính phương pháp giảng dạy không phù hợp đã làm cho nội dung về bản chất từ trước đến nay đã được cho là "khô khan" thì nay càng trở nên cứng nhắc hơn.

Thứ ba, nhận thức của sinh viên đối với tầm quan trọng, sự cần thiết và trách nhiệm của sinh viên phải học, phải nghiên cứu môn GDQP và AN cũng là một trong những trở ngại rất lớn làm cho việc giảng dạy chưa thật sự được hiệu quả. Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng môn học đối với bản thân, đối với xã hội chưa cao được biểu hiện bởi việc sinh viên không quan tâm những nội dung mà môn học truyền đạt, không tích cực nghe giảng, không lấy mục tiêu học tập để nâng cao kiến thức, nâng cao sự hiểu biết làm trọng tâm, có những bình luận, ý kiến không nên để môn học là học phần bắt buộc mà nên đưa vào các học phần tự chọn, xem việc học môn GDQP và AN không có ý nghĩa, không giúp ích gì cho bản thân trong quá trình lập nghiệp sau này. Cho nên, từ nhận thức không thấu đáo dẫn đến hành động không đúng là vấn đề, tất yếu hiển nhiên phụ hợp với câu thành ngữ "Tư tưởng không thông, bình tông vác cũng thấy nặng".

Thứ tư, nguồn tài liệu tham khảo còn ít, khó tìm kiếm hoặc sinh viên chưa xác định được đâu là tài liệu tham khảo phù hợp cũng đang là một trở ngại khiến người học ít nghiên cứu sâu các nội dung môn học. Để môn học có chiều sâu, không những đòi hỏi giảng viên nghiên cứu mà sinh viên trong quá trình học tập cũng cần thực hiện các nghiên cứu liên quan để tìm ra cái mới, cái còn vướn mắc mà trong giáo trình chưa làm rõ. Muốn thực hiện nghiên cứu thì tài liệu tham khảo là rất cần thiết, nhưng vì nội dung khá đặc thù, liên quna nhiều lĩnh vực mà nguồn tài liệu ở nhà trường thì có giới hạn nên hiện nay giảng viên và sinh viên còn khá rụt rè, chưa mạnh dạng trong thực hiện nghiên cứu đây cũng chính là yếu tố làm cho nội dung môn học ít có sự mới mẻ.

Chính vì những lý do nêu trên đã làm cho môn học trở nên thiếu hấp dẫn, khô khan về nội dung, cứng nhắc về phương pháp và các nguyên nhân khác đang tồn tại như là các yếu tố thuộc về bản thân người học dã dẫn đến tình trạng mức độ tiếp nhận kiến thức của người học còn hạn chế; người học không thiết tha với môn học; thái độ học tập không tích cực như là: đến lớp không đúng giờ, trên lớp thì lơ là, không tập trung, không tham gia đóng góp xây dựng bài, họ đến lớp chỉ để điểm danh theo quy định; mục đích học môn GDQP và AN chỉ dừng lại ở mức đủ điểm để hoàn thành môn học vì nó là điều kiện để tốt nghiệp và cảm thấy không có động lực học tập môn GDQP và AN.

Với những khó khăn, nhận thức chưa đúng, thái độ và hành vi học tập không tích cực nêu trên đã tác động tiêu cực đến chất lượng giáo dục của môn học, kết quả không đạt được mục tiêu mà môn học đã đặt ra; một minh chứng rõ nét, điển hình là sau khi học xong nội dung nào đó khi ôn lại bài cũ thì tri thức không còn đọng lại trong bản thân của sinh viên. Một khía cạnh cũng đáng quan tâm đó là với hình thức đào tạo theo hệ thống tin chỉ người học luôn là trung tâm của việc dạy học, người học có tích cực học tập, hứng thú với môn học thì việc giảng dạy mới đạt hiệu quả cao.

Từ thực trạng nêu trên, một câu hỏi về tạo động lực học tập cho sinh viên được đặt ra, làm thế nào để có thể tạo động lực học tập cho sinh viên? - câu hỏi này phải được các đơn vị chuyên môn, nhà trường, các nhà quản lý giáo dục, đội ngũ giảng viên đang giảng dạy môn GDQP và AN trả lời bằng hành động thiết thực nhất trong thời gian gần nhất. Tại Đại hội XII cũng đã nhấn mạnh: "Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học". Đây là sự tiếp tục khẳng định quan điểm của Nghị quyết Trung ương 8, khoá XI, là một định hướng trong giải quyết các vấn đề vướn mắc đang tồn tại giúp nâng cao chất lượng giảng dạy. Để giải quyết các khó khăn, các hạn chế và các nguyên nhân làm cho sinh viên thiếu động lực học tập thì cần phải thực hiện đồng bộ, quyết liệt các giải pháp sau:

Một là, nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, trách nhiệm đối với môn học cũng như giúp sinh viên thấy những lợi ích mà môn học đem lại. Việc làm này rất quan trọng, đây là bước đầu tiên cần phải thực hiện nếu muốn chất lượng dạy và học được nâng cao. Nhận thức có thông suốt, đúng đắn thì sẽ hướng hành động đi đúng mục tiêu, nhận thức là một trong những yếu tố có tác động đến hành vi cá nhân. Hay nói một cách cụ thể là chỉ khi nào sinh viên có thể nhận ra rằng việc học môn GDQP và AN là trách nhiệm của người sinh viên, học là để nâng cao và mở tri thức, nội dung môn học với nhiều kiến thức thuộc nhiều lĩnh vực dù bản thân đang theo học hoặc lập nghiệp ở bất cứ ngành nghề nào các giá trị tri thức trong môn học đều có thể ứng dụng được vào thực tế thì sinh viên mới có cái nhìn thấu đáo, xem việc học môn GDQP và AN như một điều kiện cần để bổ sung tri thức khoa học và xã hội, như thế thì mới tích cực học tập, nghiên cứu. Để nâng cao nhận thức, chúng ta cần thực hiện những việc như sau:

-  Cấp bộ ngành phải có các hoạt động tuyên truyền sâu rộng vào quần chúng nhân dân về vị trí, vai trò của môn học, trách nhiệm phải học tập, phải bồi dưỡng, nâng cao kiến thức về quốc phòng - an ninh

-  Nhà trường phải lãnh đạo, phải tổ chức thực hiện giảng dạy môn học phù hợp với điều kiện thực tế ở đơn vị, phải định hướng nhận thức cho sinh viên ngay từ khi tuyển sinh về chương trình đào tạo.

-  Giảng viên phải quán triệt rõ ràng về nội dung, yêu cầu, mục tiêu của môn học, làm rõ trách nhiệm của sinh viên đối với môn học và chỉ rõ những lợi ích mà sinh viên nhận được từ việc học môn GDQP và AN

Hai là, có sự điều chỉnh, cập nhật, đổi mới về nội dung môn học cho phù hợp với nhu cầu, đối tượng và thực tiễn. Giảng dạy GDQP và AN cho học sinh, sinh viên là chương trình của quốc gia, nội dung giảng dạy và giáo trình được thống nhất sử dụng chung cho mọi đối tượng; tấc cả các nhà trường, các trung tâm GDQP đang giảng dạy, học tập môn GDQP và AN ở Việt Nam và do Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Quốc phòng chủ trì cùng các bộ khác biên soạn nên người dạy không thể tự ý biên soạn lại hoặc thay đổi giáo trình, nội dung giảng dạy. Muốn thay đổi thì yêu cầu mọi thành phần có liên quan trực tiếp phải thực hiện các hoạt động sau:

Về phía người dạy, trình bày về những khó khăn, các vấn đề đang vướn mắc trong quá trình truyền đạt nội dung để tham mưu cho các cấp lãnh đạo có sự chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện khắc phục khó khăn. Góp ý về những hạn chế của chương trình hiện tại đang nằm ở đâu khi đưa vào giảng dạy; những nội dung nào chưa phù hợp, cần điều chỉnh, bổ sung, cải biên; những nội dung nào người học đang có nhu cầu tìm hiểu để các cơ quan cấp Bộ có thêm thông tin điều chỉnh nội dung cho phù hợp. Ngoài ra dựa vào tình hình thực tế đang diễn ra, người dạy có thể bổ sung, cập nhật, làm rõ thêm một số nội dung cần thiết mà trong giáo trình chưa thể hiện nhưng vẫn đảm bảo nội dung chính, cốt lõi theo giáo trình giảng dạy chuẩn.

Về phía Bộ Giáo dục và đào tạo, Bộ Quốc phòng, các cơ quan cấp Bộ có liên quan, cần xem xét, nghiên cứu, đánh giá thực tiễn để có sự điều chỉnh nội dung cho phù hợp với những gì thực tế xã hội đang diễn ra, phù hợp với mọi đối tượng. Tổ chức các đợt tập huấn, bồi dưỡng chuyên sâu giúp nâng cao trình độ, kiến thức cho giảng viên. Đối với khung chương trình hiện nay, tổng số tiết dành cho nội dung lý thuyết khá nhiều, trong các chuyên đề về lý thuyết đang tồn tại những chuyên đề gần giống về nội dung, lĩnh vực có thể gộp lại thành một chuyên để để giảm bớt số lượng chuyên đề giảm thời lượng mà vẫn đảm bảo được nội dung cốt lõi, nội dung sẽ tập trung hơn, không dàn trải, người học có thể hiểu sâu sắc các kiến thức môn học. Nội dung môn học có phù hợp với người học thì động lực học tập mới có cơ sở để hình thành, đáp ứng được nhu cầu về tri thức thì chất lượng đào tạo sẽ được nâng cao.

Ba là, thực hiện đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng tư duy tích cực và ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy. Phương pháp và hình thức tổ chức giảng dạy môn GDQP và AN là cách thức phối hợp giữa hoạt động dạy của giảng viên và hoạt động học của sinh viên, đồng thời là cách thức tổ chức tiến hành các buổi học. Đây là khâu quan trọng có ý nghĩa quyết định trong việc chuyển tải nội dung môn học đến với sinh viên nhằm thực hiện các mục tiêu dạy học.

Để phát huy được tính chủ động, sáng tạo, tính tích cực học tập của sinh viên thì người giảng viên phải có kiến thức chuyên sâu và kỹ năng giảng dạy, phải luôn tiếp thu, nghiên cứu về tri thức và phương pháp giảng dạy mới, phải luôn lấy người học làm trung tâm của việc giảng dạy.

Trên lớp học người giảng viên phải có phương pháp kích thích được tính chủ động, tích cực đóng góp xây dựng bài của sinh viên, phải biến giờ học trên lớp không còn là một giờ học đơn thuần, giảng viên nói sinh viên nghe, ghi chép mà lớp học phải trở thành một buổi đối thoại, giao lưu tri thức giữa người dạy và người học, lớp học là môi trường thuận lợi để sinh viên có điều kiện tham gia ý kiến, trình bày tham luận, thuyết trình những vấn đề nhận thức mà mình được nghiên cứu kết hợp với vấn đề thực tiễn mình đang đối mặt.

Đổi mới không có nghĩa là chúng ta bỏ đi phương pháp truyền thống, phương pháp truyền thống vẫn là nền tảng, chúng ta nên biết vận dụng, kết hợp nhuần nhuyễn giữa cái cũ và cái mới cho phù hợp. Chẳng hạn như là: sử dụng cách thức thuyết trình, đàm thoại của phương pháp truyền thống kèm theo đó là sử dụng dạy học giải quyết vấn đề, dạy học theo tình hướng, định hướng nghiên cứu, sử dụng các kỹ thuật dạy học phát huy tính tích cực và sáng tạo và chú trọng các phương pháp dạy học đặc thù bộ môn. Đồng thời, để góp phần tạo sự thành công trong việc đổi mới phương pháp giảng dạy thì một việc không thể thiếu đó là phải xây dựng nội dung bài giảng, giáo án phải thật sinh động, gắn lý luận với thực tiễn có minh họa, minh chứng bằng hình ảnh, phim ảnh.

Từ những điều việc làm cụ thể đó sẽ giúp gợi lên niềm say mê hứng thú đối với người học, làm cho người học tự nguyện, tự giác đến với lớp học, có thái độ học tập tích cực hơn, có động lực học tập và quan trọng nhất là người học có thể thấu hiểu, thông suốt được nội dung môn học, nâng cao kiến thức cá nhân như thế chất lượng được đảm bảo và ngày càng được nâng cao. Ngoài ra để thành công đạt mức cao nhất thì cần phải có một sự hỗ trợ, đồng tình ủng hộ của lãnh đạo, cần có sự thay đổi một cách đồng bộ và có hệ thống từ khâu tổ chức lớp học, khâu phân bố thời lượng phải thật hợp lý; đến khâu cung cấp tài liệu nghiên cứu cho sinh viên. Với ý nghĩa đó nhà trường phải tạo điều kiện cho giảng viên được tập huấn phương pháp giảng dạy mới để giảng viên có điều kiện tốt hơn nữa cho việc vận dụng một cách khoa học phương pháp giảng dạy mới vào trong quá trình giảng dạy.

Bốn là, xây dựng tính tự giác học tập cho sinh viên. Tính tự giác được thể hiện ở chỗ người học ý thức đầy đủ về mục đích, nhiệm vụ học tập, nghiên cứu qua đó nỗ lực nắm vững tri thức trong quá trình lĩnh hội. Tự học không những giúp sinh viên đào sâu, nắm vững kiến thức đã học trên lớp; mở rộng, cập nhật những kiến thức mới; mà còn giúp sinh viên hình thành kỹ năng học tập; bồi dưỡng hứng thú học tập; đặc biệt tự học là công cụ giúp sinh viên học tập suốt đời. Vấn đề đặt ra là: người dạy phải làm sao, bằng biện pháp nào, phải thực hiện những nội dung gì để kích thích được tính tự giác của sinh viên trong quá trình học tập; làm sao việc được nghe giảng trên lớp phải thực sự trở thành nhu cầu bức thiết của người học, phải giúp người học xác định được mục tiêu của việc học là gì. Theo UNESCO (1996) các mục tiêu trụ cột của việc học trong thời đại ngày nay là "học để biết, học để làm, học để chung sống với nhau và học để tồn tại". Để nâng cao nhận thức, tính tự giác của người học thì giảng viên cần thực hiện các nội dung sau:

-  Giúp sinh viên hiểu được vị trí vai trò và ý nghĩa của tự học, các hoạt động tự học, cũng như các yêu cầu của việc tự học đối với bộ môn GDQP và AN trong buổi đầu khi giới thiệu môn học đồng thời cần chuyển cho sinh viên đề cương chi tiết môn học để người học tiện theo dõi.

-  Nội dung truyền đạt, phương pháp giảng dạy phải phù hợp với tính đặc thù của đối tượng sinh viên theo các ngành học vì mỗi ngành, mỗi ngành nghề sinh viên sẽ có tính cách, đặc điểm, nhận thức, phương pháp học tập khác nhau. Bản thân người giảng viên phải không ngừng trao dồi kiến thức cả về lý luận lẫn thực tiển của nhiểu lĩnh vực, giỏi chuyên môn và kiến thức xã hội như thế mới có thể truyển đạt nội dung phù hợp với từng ngành.

-  Giảng viên phải là người giữ vai trò khơi gợi, định hướng cho sinh viên học tập, nghiên cứu những vấn đề mà họ đang quan tâm, từ đó sinh viên có thể tự rèn luyện được khả năng tư duy, sáng tạo; thói quen tự học, tự tìm hiểu và trang bị kiến thức cho bản thân. Đây là yếu tố quyết định chất lượng học tập, chất lượng đào tạo.

Tuy nhiên, giải pháp nào đi nữa thì để nâng cao chất lượng giáo dục bên cạnh vai trò quan trọng của người dạy thì yếu tố người học cũng không nên xem nhẹ, cần đặc biệt chú ý đến động lực học tập vì nó thể hiện sự thỏa mãn với những gì mà môn học mang lại cho họ. Để có động lực học tập, người học phải tự ý thức được hoặc cần có sự giúp đỡ từ nhiều phía để nhận thức được rằng việc học trước hết là cho bản thân mình và chính mình là người phải biết cách để đưa những gì đã được học vào thực tế, biết biến kiến thức chưa khai phá thành tài sản riêng bằng quá trình tự nghiên cứu. Mỗi giải pháp đã đề xuất, muốn thực hiện thành công đòi hỏi phải có sự đoàn kết, thống nhất của tập thể sư phạm nhà trường và của tập thể đội ngũ giảng viên của môn học nói riêng có như vậy mới thực sự tạo được sự chuyển biến trong cách dạy, cách học, động lực học tập được nâng cao góp phần nâng cao chất lượng giáo dục dối với môn GDQP và AN.