ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

ỨNG DỤNG CÔNG NGHỆ THÔNG TIN TRONG GIẢNG DẠY MÔN GIÁO DỤC QUỐC PHÒNG VÀ AN NINH NHẰM NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐÀO TẠO

Trần Bảo Nguyên

Bộ môn GDQP, Trường Đại học An Giang

Công nghệ thông tin (CNTT) xuất hiện khá lâu trên thế giới và dần dần du nhập vào Việt Nam không lâu sau đó. Những năm 90 trong tiến trình toàn cầu hóa, CNTT đã có những sự đóng góp tích cực cho các hoạt động sản xuất từ đó khẳng định được vị trí, vai trò của mình và một sự kiện quan trọng đáng ghi nhớ đánh dấu sự phát triển của ngành CNTT ở Việt Nam đó là vào năm 1997 chúng ta đã thực hiện việc kết nối Internet vào mạng toàn cầu, mở ra một thời kỳ mới của CNTT. Trong thời đại ngày ngay, thời kỳ bùng nổ của CNTT nhất là trong lúc cả thế giới đang bước vào cuộc cách mạng công nghiệp 4.0, CNTT là một cụm từ quá quen thuộc với tấc cả mọi người và nó xuất hiện trong tấc cả các lĩnh vực đời sống kinh tế, xã hội. CNTT được xem như một cuộc cách mạng trong xã hội loài người ngoài cuộc cách mạng công nghiệp. CNTT mang lại một nhóm các công cụ tri thức hữu ích và hiệu quả cho hoạt động sản xuất cho con người. CNTT xuất hiện đánh dấu một bước phát triển vượt bậc của con người, mở ra một cánh của mới, những sự sáng tạo mới cho đời sống xã hội con người. CNTT đã được xác định là một trong bốn trụ cột của kinh tế tri thức, giữ vai trò nền tảng, thúc đẩy sự phát triển nhanh, bền vững của đất nước.

Việc ứng dụng CNTT trong các hoạt động sản xuất nói chung là hết sức cần thiết và lĩnh vực giáo dục nói riêng luôn là một tấc yếu, là điều kiện cho sự đổi mới, sự phát triển, đảm bảo cho nguồn lực chất lượng cao cho quá trinh hội nhập. Thực tế, CNTT đã đi vào lĩnh vực giáo dục như một quy luật tự nhiên, với mục đích phát triển toàn diện nền giáo dục, CNTT đã phần nào khẳng định được hiệu quả đối với hoạt động quản lý giáo dục, hoạt động dạy và học, là công cụ đắc lực hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy, học tập và quản lý, góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng giáo dục. CNTT là phương tiện hữu hiệu góp phần xây dựng "xã hội học tập". Mặt khác, giáo dục và đào tạo đóng vai trò quan trọng thúc đẩy sự phát triển của CNTT thông qua việc cung cấp nguồn nhân lực cho lĩnh vực đó. Điều này đã được khẳng định trong một số phát biểu chính thức thuộc nghị quyết trung ương của Đảng Cộng sản Việt Nam, của Bộ Giáo dục và đào tạo cũng như của một số bài nghiên cứu khác. Để định hướng và khuyến khích ứng dụng CNTT vào các hoạt động dạy học thì ngày 06 tháng 10 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ ký quyết Quyết định số 246/2005/QĐ-TTg phê duyệt "Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020" và Bộ Giáo dục và đào tạo cũng đã chỉ rõ: "Việc hỗ trợ đổi mới phương pháp giảng dạy bằng ứng dụng CNTT phải được thực hiện một cách hợp lý, tránh lạm dụng, tránh bệnh hình thức chỉ ứng dụng CNTT tại một số giờ giảng trong cuộc thi, trong khi không áp dụng trong thực tế hàng ngày".

Trong năm học 2008 - 2009, Bộ GD&ĐT phát động "năm học công nghệ thông tin" với mong muốn tạo ra bước đột phá trong đổi mới giáo dục. Sự tiện lợi, tính hữu dụng càng được nâng cao, việc ứng dụng CNTT vào đời sống xã hội ngày càng sâu rộng, mang lại nhiều hiệu quả thiết thực. Và hiện tại, CNTT được ứng dụng rất rộng rãi, hầu như có mặt trong tấc cả các cơ sở giáo dục đào tạo từ quy mô nhỏ đến quy mô lớn. Sự quan tâm, chỉ đạo quyết liệt của Đảng, nhà nước, bộ ngành, sự tích cực thực hiện ứng dụng CNTT trong giáo dục của các tập thể sư phạm nhà trường, các tổ chức giáo dục đã đem lại những bước phát triển rất lớn cho nền giáo dục nước nhà và từng bước nâng tầm được chất lượng giáo dục. Theo ông Faycal Bouchlaghem, Giám đốc Chương trình "Tiềm năng không giới hạn" khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Microsoft đã khẳng định: "Microsoft luôn hiểu giáo dục là một vấn đề vô cùng quan trọng, đó là nền tảng cho việc hoàn thiện con người và tăng trưởng kinh tế đất nước". Và đó cũng là lý do chính Microsoft đưa ra những cam kết dài hạn trong việc thúc đẩy ứng dụng công nghệ thông tin - truyền thông (CNTT-TT) vào việc dạy và học nhằm góp phần phát triển hệ thống giáo dục và nâng cao chất lượng giáo dục tại Việt Nam. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong các nhà trường hiện nay được chia thành 4 mức độ sau:

Mức độ 1: Ứng dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ giáo viên trong việc soạn giáo án, sưu tầm và in ấn tài liệu..., chưa sử dụng trong việc tổ chức các tiết học cụ thể của từng môn học.

Mức độ 2: Sử dụng công nghệ thông tin để hỗ trợ một khâu, một công việc nào đó trong toàn bộ quá trình dạy học.

Mức độ 3: Sử dụng phần mềm dạy học để tổ chức lên lớp một tiết học, một chủ đề hoặc một chương trình học tập.

Mức độ 4: Tích hợp công nghệ thông tin vào toàn bộ quá trình dạy học

Công nghệ thông tin ngày càng phát triển. Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong ngành càng được mở rộng. Vậy việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục mang lại những lợi ích gì?

Đối với học sinh

-  Học sinh được trực tiếp hưởng lợi ích từ việc ứng dụng công nghệ thông tin vào giáo dục. Các phương pháp dạy học với các thiệt bị hiện đại giúp giờ học trở nên hấp dẫn sinh động, bớt nhàm chán hơn so với những giờ học truyền thống.

-  Học sinh có cơ hội được thể hiện chính kiến, sự tương tác giữa thầy và trò nhiều hơn. Điều này giúp giáo viên hiểu hơn về năng lực học sinh, khả năng tiếp thu kiến thức để từ đó điều chỉnh được cách dạy cách truyền đạt cho phù hợp hơn.

-  Đồng thời học sinh trở nên mạnh dạn tự tin hơn khi có thể phát biểu. Việc ứng dụng công nghệ vào giáo dục giúp khả năng công nghệ thông tin của người học cải thiện rõ rệt, đồng thời các giờ thuyết trình trở nên sống động hơn bao giờ hết.

Đối với giáo viên

-  Không chỉ riêng gì học sinh là người trực tiếp hưởng các lợi ích từ việc này, giáo viên có thể linh hoạt và sáng tạo hơn trong việc giảng dạy. Người dạy có thể sử dụng hình ảnh, video, âm thanh...làm các bài giảng trở nên trực quan bớt hàn lâm hơn.

-  Nhờ công nghệ thông tin mà giáo viên có thể chia sẻ thảo luận với đồng nghiệp nhanh chóng hơn giúp nâng cao chất lượng dạy học.

Đối với xã hội

-  Từ lâu, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học đã được thực hiện ở rất nhiều nước phát triển trên thế giới. Hiện nay ở Việt Nam, tuy khoảng thời gian ứng dụng công nghệ trong giảng dạy tại các trường học còn khá ngắn, nhưng những lợi ích của điều đó đã được thể hiện rõ nét. Chất lượng giáo viên được nâng cao, các phương pháp giảng dạy được thay đổi theo chiều hướng tích cực. Chúng ta có thể hy vọng vào một ngày không xa, nền giáo dục Việt Nam sẽ theo kịp được sự phát triển của các nước có nền giáo dục hàng đầu trên thế giới.

Trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ứng dụng CNTT vào hoạt động học tập, công tác của các đơn vị trong lực lượng vũ trang nói chung đã có nhiều chuyển biến mạnh mẽ, ngày càng được chú trọng, đã trở thành phương tiện không thể thiếu. Riêng đối với hoạt động giảng dạy môn Giáo dục quốc phòng và an ninh (GDQP và AN) là bộ môn thuộc khoa học chính trị - xã hội, chuyên về lĩnh vực quân sự, quốc phòng - an ninh. Nên người học cho rằng môn học khá khô khan, thiếu sinh động về nội dung, không thu hút được người học, học sinh, sinh viên còn chưa cảm thấy hứng thú, còn thờ ơ, thiếu trách nhiệm với môn học, nhất là các nội dung về lý thuyết, điều này sẽ ảnh hưởng rất lớn đối với chất lượng đào tạo. Từ thực trạng đó, người dạy cần phải thay đổi tư duy, phải sử dụng tích cực các công cụ hỗ trợ mới để có thể truyền tải hết nội dung môn học đến người học. Một bước đi lớn mà chúng ta thấy rõ, minh chứng cho việc đưa CNTT vào giảng dạy đó là việc sử dụng bài giảng điện tử. Ở thời điểm hiện tại, bài giảng điện tử gần như thay thế hoàn toàn bài giảng truyền thống, bài giảng sử dụng bảng và phấn, bài giảng điện tử sẽ giúp nội dung bài giảng sinh động và hấp dẫn hơn rất nhiều, với nhiều thông tin, tư liệu; như thế sẽ phát huy khả năng tương tác giữa giảng viên với sinh viên và giữa các sinh viên với nhau trong quá trình dạy học; đồng thời, hướng sinh viên đến quá trình tự giáo dục, tự chiếm lĩnh tri thức vốn là mục tiêu vô cùng quan trọng trong nền giáo dục hiện đại. Một giờ học với bài giảng điện tử, người học sẽ tích cực, chủ động theo dõi bài hơn. Để thiết kế được một bài giảng điện tử sinh động, phong phú về tư liệu thì CNTT cung cấp cho người dạy rất nhiều phần mềm để xây dựng bài giảng điện tử như: Powerpoint, Prezzi, LectureMaker, Adobe Presenter, ISpring Presenter, V-ISpring Suit, Violet...là các mềm thông dụng, được giảng viên ở rất nhiều trường trên thế giới sử dụng vì tính dễ sử dụng và rất hiệu quả. Vì vậy, việc sử dụng CNTT với sự tích hợp các phương tiện dạy học tiên tiến để khai thác thông tin, sự kiện, hình ảnh, phim tư liệu vào thiết kế bài giảng sẽ làm cho nội dung bài học phong phú, đa dạng, trực quan, sinh động, giúp người học dễ dàng tiếp nhận và khắc sâu kiến thức.

Một khía cạnh khác, việc dạy và học trong thời đại mới luôn chứa đựng một khối lượng tri thức, thông tin lớn, bùng nổ và tăng nhanh. Nội dung thông tin ngày càng chuyên sâu, phức tạp và biến đổi nhanh chóng khiến việc dạy học theo phương pháp truyền thống không đáp ứng được, không truyền tải hết nội dung, tất yếu đòi hỏi phải có phương pháp tiếp cận thông tin mới, nên phải đổi mới cách dạy và học. Cùng với mặt bằng chung của ngành, tri thức của môn học mang tính lý luận cao nhưng phương pháp giảng dạy chủ yếu hiện nay đang sử dụng là phương pháp thuyết trình đơn thuần, dùng lời là chủ yếu. Đối với phương pháp này sẽ khiến việc truyền thụ tri thức dễ mang tính một chiều, thụ động và "áp đặt" người học, như vậy sẽ không hiệu quả trong hoạt động dạy và học. Do đó, vai trò cảu người thầy trong thời kỳ toàn cầu hóa giáo dục "chỉ nên giới thiệu những giá trị cốt lõi của môn học, còn lại chủ yếu là thực hiện gợi mở, hướng dẫn cách học, cách tiếp cận, cách phân tích và tổng hợp, giải quyết vấn đề, tức là nhằm phát triển năng lực tự nghiên cứu, tự học". Người thầy cần cung cấp, hướng dẫn cho người học cách tìm kiếm tài liệu, thông tin hiệu quả.

Nguồn tài liệu tham khảo như sách, các nghiên cứu, bài báo khoa học phục cho môn học, cho nghiên cứu, tự học ở các nhà trường không chuyên hiện nay còn khá hạn chế, việc tiếp cận còn gặp khó khăn bởi vấn đề thủ tục và mất nhiều chi phí. Một giải pháp tiến bộ của CNTT có thể khắc phục được các khó khăn đó là sử dụng internet, đây là một thư viện trực tuyến, nguồn cung cấp tài liệu tham khảo vô tận, phong phú, đa dạng, được khai thác nhanh chóng, thuận tiện nhất. Sử dụng internet người học sẽ có cơ hội tiếp cận các tài liệu tham khảo dễ dàng, chỉ với một chiếc máy tính và vài thao tác đơn giản nên hiện nay đây là một lựa chọn theo người học cho là là tối ưu nhất. Bill Gates, ông chủ tập đoàn Microsoft, đã khẳng định: "Một trong những điều kỳ diệu nhất trong 20 năm trở lại đây là sự xuất hiện của Internet. Chính Internet đã làm cho thế giới trở nên rất nhỏ, khoảng cách địa lý đã bị san phẳng...Một điều tuyệt vời khác là ngày càng có nhiều trường đại học trên thế giới đưa bài giảng lên Internet. Bạn có thể ở bất kỳ nơi đâu trên thế giới để chọn bài giảng, chủ đề..., thậm chí là những giáo sư danh tiếng để học tập mà không phải trả tiền. Đây sẽ là một sự thay đổi gốc rễ hệ thống giáo dục trong thời gian tới". Tuy nhiên, người học cần phải có đủ trình độ tri thức, kỹ thuật chọn lọc nội dung trước khi sử dụng vì tính minh bạch, tính chính thống của một số tài liệu tham khảo trên internet còn chưa được kiểm duyệt chặt chẽ - một nhược điểm lớn nhất của inetrnet bởi tính phổ biến và rộng lớn về thông tin.

Việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy hiện nay là rất cần thiết và phù hợp với xu thế phát triển của xã hội. Để việc ứng dụng đó được tốt chúng ta cần thực hiện một số giải pháp sau:

- Quán triệt, tuyên truyền, nâng cao nhận thức về vai trò, lợi ích và hiệu quả của việc ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học. Do thói quen, do sự chậm đổi mới về tư duy, không thích tiếp nhận cái mới nên một bộ phận giáo viên chưa thực sự nhận thức được tầm quan trọng, vị thế, những lợi ích và hiệu của việc ứng dụng CNTT trong giáo dục mang lại, chưa sử dụng CNTT để làm công cụ hỗ trợ giảng dạy. Sự tụt hậu này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến kết quả học tập của người học và hiệu quả làm việc của bản thân người dạy. Hoặc đã nhận thức nhưng chưa sâu, chưa đầy đủ, chưa đúng thì cần phải thực hiện quán triệt các quan điểm chỉ đạo của Đảng, nhà nước, các quy định, mục tiêu, hường dẫn của tổ chức giáo dục, nhà trường đối với việc ứng dụng CNTT trong giáo dục để định hướng, giúp họ thay đổi tư duy về những gì mà CNTT mang lại và điều chỉnh việc dạy học phải gắn liền với CNTT. Chỉ khi nào người dạy nhận thức được vấn đề cốt lõi, thay đổi tư duy, thói quen truyền thống, gạt bỏ lo sợ về sự thay đổi, sự "ù lì" thì CNTT mới có thể đi sâu vào quá trình giảng dạy và có những đóng góp tích cực để nâng cao chất lượng dạy và học.

- Tổ chức, bồi dưỡng nâng cao trình độ cho giáo viên về ứng dụng công nghệ thông tin vào dạy học. Để làm chủ và sử dụng các phần mềm, các phương tiện phục vụ cho việc dạy học hiệu quả thì năng lưc giảng viên là hết sức quan trọng. Người giảng viên không những cần có tri thức chuyên môn mà tri thức về CNTT cũng phải nắm vững để làm cơ sơ cho việc xây dựng giáo án, điều khiển các phương tiện điện tử trong giảng dạy và hướng dẫn người học cách thức nghiên cứu, tìm kiếm tài liệu thông qua các kênh với sự hỗ trợ của internet. Thực trạng trình độ, kiến thức về CNTT, kỹ năng sử dụng máy tính, các phương tiện kỹ thuật của đội ngũ giảng viên GDQP và AN hiện nay còn hạn chế, không đồng đều, chưa tương xứng, chưa đáp ứng được yêu cầu để có thể làm chủ CNTT trong giảng dạy. Do vậy, các cấp, các ngành, đặc biệt là từ phía nhà trường cần tổ chức bồi dưỡng, tập huấn chuyên sâu các kiến thức, kỹ năng ứng dụng CNTT vào lĩnh vực giáo dục để giảng viên bổ sung và nâng cao trình độ bản thân, góp phần thực hiện thành công mục tiêu nâng cao chất lượng đào tạo môn GDQP và AN.

- Xây dựng hệ thống học liệu điện tử, học liệu trực tuyến. Đầu những năm 90, Thuật ngữ "tài liệu điện tử" đã xuất hiện ở Nga trong tiêu chuẩn hiện hành GOST R 51141-98: "đó là tài liệu được tạo lập do sử dụng các vật mang tin và các phương pháp ghi bảo đảm xử lý thông tin của nó bằng máy tính điện tử". Tại Việt Nam, Luật lưu trữ năm 2011 định nghĩa "Tài liệu điện tử" là vật mang tin được tạo lập ở dạng mà thông tin trong đó được tạo ra, được gửi đi, được nhận và được lưu trữ bằng phương tiện hoạt động dựa trên công nghệ điện, điện tử, kỹ thuật số, từ tính, truyền dẫn không dây, quang học, điện từ hoặc công nghệ tương tự, hình thành trong quá trình hoạt động của cơ quan, tổ chức, cá nhân hoặc là vật mang tin mà thông tin trong đó được tạo lập bằng việc biến đổi các loại hình thông tin trên các vật mang tin khác sang thông tin dùng tín hiệu số. "Tài liệu trực tuyến" là một khái niệm mới xuất hiện, chưa có một định nghĩa cụ thể, rõ ràng nào về tài liệu trực tuyến. Tuy nhiên, tài liệu trực tuyến được hiểu là tài liệu điện tử/tài liệu số được lưu trữ trên các server, được thể hiện trên các trang web và để đọc hay tải tài liệu này người dùng tin phải truy cập Internet.

Trong giai đoạn hiện nay, xây dựng và phát triển học liệu điện tử, trực tuyến cho môn học phù hợp với sự phát triển của nền giáo dục hiện đại rất được quan tâm của các trường, trung tâm. Nhưng thực tế nguồn học liệu điện tử, học liệu trực tuyến của môn học còn khá ít, chưa phổ biến rộng rãi và khó tìm kiếm. Để tham khảo được tài liệu mang tính đặc thù này thì người học lẫn người dạy chủ yếu là dựa vào các tài liệu dạng văn bản giấy. Hình thức này còn nhiều khuyết điểm, chưa linh động. Bên cạnh đó, việc chia sẽ loại tài liệu truyền thống này gặp rất nhiều khó khăn, mất nhiều chi phí, mang tính nội bộ. Cho nên, nếu hai giải pháp nêu trên thực hiện tốt nhưng không có nguồn học liệu mở với sự hỗ trợ CNTT thì kết quả giảng dạy cũng không đạt chất lượng cao nhất. Từ thực tế đó, chúng ta cần xây dựng một hệ thống các bài giảng điện tử và hệ thống đó phải được đăng tải trên trang web chuyên ngành để mọi người có thể tiếp cận, lưu trữ một cách dễ dàng, nhanh chóng và chính xác nhất. Cụ thể, chúng ta nên thành lập một trang web áp dụng chung cho tấc cả mọi đối tượng đang dạy và học môn GDQP và AN để cung cấp các thông tin về chuyên môn cho môn học, với sự tích hợp đầy đủ hệ thống bài giảng, tài kiệu tham khảo dạng tập tin điện tử, đây có thể được xem là một thư viện quốc gia đành riêng cho môn học và là nơi để mọi người giao lưu, học hỏi.  Đồng thời, tính liên kết của trang web với các trang web khác trong lĩnh vực quân sự, quốc phòng - an ninh, với các trang web của từng đơn vị tham giảng dạy môn GDQP và AN phải cao để người học có thể mở rộng thêm tri thức và người dạy có thêm thông tin phục vụ cho giảng dạy từ nhiều nguồn khác nhau chỉ với một cái nhấn chuột.

Tầm quan trọng, sự hiệu quả và sức ảnh hưởng của việc ứng dụng CNTT trong dạy học đã được khẳng định bằng thực tiễn ở nước ta và trở thành xu thế tất yếu của giáo dục. CNTT trên thực tế đã dần chứng minh được vị thế, vai trò đối với quá trình giảng dạy các môn học nói chung và môn GDQP và AN nói riêng. Người giảng viên muốn sử dụng CNTT vào giảng dạy hiệu quả thì bắt buộc mọi giảng viên phải học tập, nghiên cứu các kiến thức về CNTT, phải quan tâm và xem CNTT như một người trợ thủ đắc lực trong hoạt động giảng dạy để môn học ngày càng đi sâu vào tri thức, trở thành một môn học yêu thích của người học và việc giảng dạy môn học đạt chất lượng ngày càng cao.