NGHỆ THUẬT KẾT HỢP ĐẤU TRANH GIỮA MẶT TRẬN QUÂN SỰ VỚI CHÍNH TRỊ, NGOẠI GIAO VÀ ĐỊCH VẬN THỜI KỲ PHONG KIẾN

Tác giả: Phạm Văn Thành.

Chiến tranh không chỉ là quá trình chuẩn bị quân đội, vũ khí, chiến trường mà chiến tranh có tác động đến mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, len lõi đến từng ngõ ngách nên nó là sự thử thách toàn diện của mỗi quốc gia, dân tộc. Nếu chiến tranh không hiểu theo đúng nghĩa của nó, sự huyền bí, sáng tạo trong từng trận đánh thì nhà cầm quân, bên tham chiến không thể giành thắng lợi cao nhất và hoàn toàn được. Do đó để hiểu đúng nghĩa của chiến tranh thì mỗi người trong cả nước từ vua, quan lại và nhân dân cần nhận thức đầy đủ bản chất, tính chất của chiến tranh và để giành thắng lợi hoàn toàn nhất phải có sự đóng góp của toàn xã hội, mỗi lĩnh vực là một mặt trận hẳn hoi: có người cầm binh, lực lượng chiến đấu, kế hoạch tác chiến rõ ràng… Đó là nghệ thuật kết hợp chặt chẽ đấu tranh giữa các mặt trận nhằm tạo ra sức mạnh tổng hợp giành thắng lợi và là một phần của chiến tranh toàn dân.

Chiến tranh Việt Nam thời cổ, trung đại đã biết kết hợp nhuần nhuyễn và có hiệu quả cao các mặt trận quân sự, chính trị, ngoại giao, địch vận để có đủ sức mạnh đánh thắng đối phương.

Mặt trận quân sự, có tính quyết định trực tiếp đến thắng lợi của chiến tranh, là quá trình tổ chức và xây dựng quân đội, huy động lực lượng, điều động quân ra trận, thực hành các phương thức tác chiến, các hình thức và thủ đoạn chiến đấu nhằm tiêu diệt sinh lực địch, tạo đà, tạo thế, làm hậu thuẫn cho các mặt trận khác và chịu trách nhiệm trực tiếp việc thành bại của cuộc chiến tranh. Quả thật, dân tộc ta từ đời này sang đời khác luôn luôn trường kỳ, liên tục, tiến hành đấu tranh vũ trang chống những kẻ thù xâm lược thường lớn mạnh hơn mình; và phần lớn các cuộc đấu tranh vũ trang đó đều giành được thắng lơi vẻ vang. Tại sao tổ tiên  chúng ta lại làm được điều như vậy? Đó là, Tổ tiên ta (từ khởi nghĩa hai Bà Trưng năm 40 – 43) luôn biết kế thừa, tiếp thu và phát huy những cái hay trong nghệ thuật tác chiến không chỉ của ta mà còn cả của kẻ thù “lấy gậy ông, đập lưng ông”, nghệ thuật đánh giặc đó đã không ngừng từng bước hoàn chỉnh và nâng cao; đến thời đại Quang Trung thì nền nghệ thuật quân sự  thời cổ, trung đại đã được hoàn chỉnh và có trình độ cao. Ở mỗi thời kỳ, mỗi triều đại thì  nghệ thuật đánh giặc có những nét độc đáo riêng. Tác giả điểm qua đôi nét đặc sắc một số cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm đồng thời cũng trình bày những nét độc đáo trong cánh đánh giặc của ông cha ta.

 

Nét đặc sắc của cuộc nổi dậy thời Hai Bà Trưng là sức mạnh lớn lao của cuộc tổng nổi dậy vũ trang đồng thời của toàn dân ở khắp miền đất nước, quật ngã quân thù cùng một lúc ở khắp cả mọi nơi, đập tan ngay chính quyền thống trị trung ương, làm quân địch trở tay không kịp. Đòn quyết định do hai Bà Trưng lãnh đạo đã tiêu diệt ngay cơ quan đầu não, sào huyệt lớn nhất của quân thù, vì thế mà đã giành được thắng lợi hoàn toàn và nhanh chóng.

 

Nét đặc sắc của Lý Thường Kiệt là tư tưởng tiến công rất cao “tiên phát chế nhân”. Ông luôn luôn chủ động, tích cực, liên tục tấn công kẻ thù, đánh phủ đầu quân xâm lược khi chúng chưa kịp hành động và dù trong thế bị kẻ thù tiến công, ông cũng quyết liệt phản công lại kẻ thù một cách nhanh chóng.

 

Nét đặc sắc của Trần Hưng Đạo là biết phân tán, làm cho địch lâm vào hoàn cảnh mệt mỏi, mặc dù quân đội có hung mạnh, làm chúng rơi vào  cảnh tiến thoái lưỡng nan, lúng túng, rồi thực hành phản công. Hơn thế, Trần Hưng Đạo còn biết phát động toàn dân đánh giặc bên cạnh lực lượng quân đội của triều đình, tạo thành thế đánh giặc “song kiếm hợp bích” tức lực lượng quân đội triều đình và lực lượng quần chúng nhân dân luôn sát cánh bên nhau trong quá trình chiến đấu. Có thể khẳng định rằng Trần Hưng Đạo là một vị chỉ huy tài ba, ông rất giỏi chỉ huy các binh đoàn lớn đánh vận động, do đó khi đối mặt với giặc Mông - Nguyên, Trần Hưng Đạo luôn biết cánh giành thắng lợi, cho dù thế giặc có mạnh đến đâu.

 

Triều đại nhà Trần đã để lại cho dân tộc Việt Nam những trang sử hào hùng, vẻ vang, chói lọi; những bài học kinh nghiệm trong nghệ thuật đánh giặc, làm nền tảng vững chắc cũng như làm phong phú, da dạng cho nghệ thuật đánh giặc của các thế hệ sau này. Trận chiến ở Chương Dương, Bạch Đằng…là những trận chiến nổi tiếng, mãi mãi đi vào những trang sử chói lọi dân tộc.

Bước sang thời kỳ kháng chiến chống giặc Minh của Lê Lợi, Nguyễn Trãi, tiếp tục kế thừa và phát huy những truyền thống quý báo của dân tôc Việt Nam từ ngàn xưa đó là luôn biết dựa vào nhân dân chiến đấu, luôn có niềm tin mãnh liệt vào sức mạnh của quần chúng nhân dân, phát động nhân dân khởi nghĩa giành lại nền độc lập cho dân tộc đã bị triều đại nhà Hồ đánh mất. Nhìn chung, cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo có những nét tương đồng với cuộc chiến chống giặc Mông - Nguyên của triều đại nhà Trần, đó là nghệ thuật tác chiến vận động. Tuy nhiên, trong cuộc chiến chống giặc Mông - Nguyên của triều đại nhà Trần có sự phối hợp chặt chẽ giữa lực lượng quân đội triều đình và lực lượng nhân dân còn cuộc kháng chiến chống quân Minh của Lê Lợi - Nguyễn Trãi lãnh đạo thì chỉ có lực lượng nhân dân, tạo thành phong trào khởi nghĩa nông dân lớn nhất trong lịch sử dân tộc, đây là nét khác biệt rất rõ rệt.

Ở đây, tác giả trình bày một vài điểm hay, độc đáo trong cuộc khởi nghĩa của Lệ Lợi - Nguyễn Trãi là hai ông rất giỏi kết hợp quân sự với chính trị; tác chiến với binh, địch vận “mưu phạt tâm công” đây là thuật  ngữ đã được dùng trong tác phẩm  “Bình Ngô đại cáo”, thuật ngữ ấy đã trình bày một đường lối chiến lược của nghĩa quân Lam Sơn, không đánh thành mà đánh vào lòng người là chiến lược tiến công rất nhất quán của nghĩa quân Lam Sơn ngay từ đầu cho đến khi chiến tranh kết thúc. Lê Lợi cũng từng có chủ trương “đánh thành là hạ sách”; và đặc biệt là rất giỏi về đánh du kích, rồi từ du kích tiến lên đánh tập trung. Tác chiến tập trung là tác chiến đánh vận động.

Đặc điểm nổi bật của đánh vận động thời kỳ kháng chiến chống giặc Minh là rất mưu trí, biết chọn mục tiêu, chọn đối tượng tiến công thích hợp để giành thắng lợi, đó là thế trận chiến lược của đòn quyết chiến cuối cùng tiêu diệt đạo quân chủ lực của quân địch do Liễu Thăng chỉ huy ở Chi Lăng. Bên cạnh đó, trong thời gian diễn ra cuộc khởi nghĩa, Lê Lợi – Nguyễn Trãi cũng đã tổ chức được các tập đoàn chiến lược khác nhau để bao vây chia cắt quân thù, phân tích chính xác các đối tượng tiến công và biết vận hành các cách đánh khác nhau đối với từng đối tượng, khi không cần thiết thì có thể phân tán lực lượng tiến hành đánh du kích và khi thời cơ đến thì biết tập trung trở thành lực lượng quân sự mạnh để tiêu diệt gọn quân thù giành thắng lợi cuối cùng của cuộc kháng chiến lâu dài vĩ đại.

Đến thời kỳ Quang Trung thì nét độc đáo của cách đánh giặc là tư tưởng tiến công cao, tiến công kiên quyết, giỏi đánh công thành, đánh nhanh, đánh chớp nhoáng, giỏi cơ động các binh đoàn lớn thần tốc, táo bạo, bất ngờ. Điều này được lịch sử dân tộc ghi lại rất rõ ràng khi ba anh em Tây Sơn (Nguyễn Nhạc, Nguyễn Lữ, Nguyễn Huệ) đập tan các tập đoàn phong kiến thối nát trong nước đó là tập đoàn phong kiến Chúa Nguyễn ở Đàng Trong và vua Lê - Chúa Trịnh ở Đàng Ngoài, thì ngay sau đó Tây Sơn đã đánh tan 5 vạn quân Xiêm do hai tướng Chiêu Tăng và Chiêu Sương lãnh đạo tràn vào xâm lược nước ta với chiến thắng rất vẻ vang ở trận Rạch Gầm – Xoài Mút (Mỹ Tho) vào năm 1784 – 1785; tiếp đó là đại phá 29 vạn quân Thanh theo chân Lê Chiêu Thống vào xâm lược nước ta, mở ra kỷ nguyên mới cho dân tộc kỷ nguyên độc lập dân tộc, thống nhất đất nước từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau.

Những thắng lợi về mặt quân sự đã góp phần cổ cho các mặt trận khác giành thắng lợi và ngược lại. Như vậy, có thể khẳng định rằng giữa các mặt trận luôn có mối liên hệ chặt chẽ với nhau, mặt trận nào cũng quan trọng như nhau và ông cha ta luôn biết cách vận dụng cho phù hợp với hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tạo thành những thắng lợi vẻ vang, lưu danh ngàn thu. Để có được những thắng lợi trên mặt trận quân sự thì có bóng dáng của các mặt trận chính trị, ngoại giao, binh vận.

Mặt trận chính trị, đòi hỏi phải thường xuyên tuyên truyền cho tính chính nghĩa của cuộc kháng chiến của ta nhằm tập hợp sức mạnh toàn dân tộc. Mặt trận chính trị hoạt động tốt có vai trò góp phần tang cường, củng cố nhà nước phong kiến trung ương tập quyền đủ sức lãnh đạo kháng chiến. Mặt trận chính trị là cơ sở tạo ra sức mạnh quân sự để các triều đại phong kiến thời Lý, Trần, Hậu Lê, Tây Sơn giành chiến thắng trong chống giặc ngoại xâm. Các triều đại luôn biết nêu cao ngọn cờ nghĩa để chống lại “kẻ hung tàn” thoả mãn ý nguyện bảo vệ Tổ quốc của nhân dân.

Mặt trận ngoại giao, người Việt luôn tự hào ông cha ta không chỉ đánh giặc giỏi mà ngoại giao cũng tài, nhất là trong hoàn cảnh ở cạnh một lớn luôn có tư tưởng bành trướng (các đế chế phong kiến phương Bắc), đòi hỏi ông cha ta có nghệ thuật ngoại giao khôn khéo, được lợi cho dân tộc mà không làm ảnh hưởng đến tình cảm ban giao giữa hai nước. Thực tế Đại Việt và Trung Hoa là hai nước láng giềng, nhưng một  bên là tông chủ, một bên là chư hầu phải thuần phục Trung Quốc, đó là nhân tố quyết định chính sách đối ngoại của ta với thiên triều.

Điều đáng nói là có khi Đại Việt muốn giữ yên phận, sống thanh bình bên cạnh một nước lớn, hàng năm đều thực hiện nghĩa vụ cống nạp hậu hĩnh nhưng sự đời nào đâu như ta nghĩ Trung Hoa luôn nuôi tham vọng thôn tính nước ta, như thế thì đúng là “cây muốn lặng, gió chẳng muốn dừng”, quá nhiều lần hình ảnh bất thiện cảm của các đế chế Trung Hoa in đậm trong tâm tư người Việt, hầu như không triều đại nào ở Trung Hoa không một lần đặt chân lên biên giới Việt – Trung; kém may mắn là thế nhưng ta nào khiếp nhược khi tư tưởng xuyên suốt trong đấu tranh ngoại giao mà ông cha ta vận dụng là: giữ vững nguyên tắc độc lập dân tộc kết hợp với mặt trận quân sự, kết thúc chiến tranh càng sớm càng tốt. Các cuộc chiến tranh lớn cùng thiên triều, phần lớn thắng lợi thuộc về Đại Việt và các triều đại phong kiến nước ta cũng hiểu được cái gọi là “vuốt mặt cũng phải nể mũi” thì mới giảm bớt thảm họa chiến tranh về sau. Do đó, sau mỗi lần đến đỉnh điểm của thắng lợi, các tướng lĩnh luôn thực hiện chiêu thức “xin cầu hoà” để giữ thể diện cho nước lớn. Đó cũng được xem là một trong những kế sách giữ nước hoà bình lâu dài.

Mặt trận địch vận, bên cạnh những thắng to lớn về quân sự ông cha ta còn biết phát huy cao độ nhân tố chính nghĩa của cuộc kháng chiến chống giặc ngoại xâm của nhân dân ta; một mặt không ngừng nêu cao bản chất chính nghĩa của ta, mặt khác không ngừng vạch trần tội ác, âm mưu thâm độc của kẻ thù, cô lập phân hoá nội bộ của chúng, làm cho chúng mạnh mà hoá yếu. Đây là một trong những diệu kế mà ông cha ta đã từng vận dụng trong kháng chiến như: trong cuộc kháng chiến chống giặc Tống, Lý Thường Kiệt đọc bài “Nam Quốc Sơn hà”

 

làm siêu lòng quân Tống bên bờ sông Như Nguyệt (sông Cầu ngày nay); hay trong cuộc kháng chiến chống quân Minh thì Lê Lợi, Nguyễn Trãi luôn đặt mặt trận địch vận lên một vị trí rất cao, tiến hành rất kiên nhẫn và có hệ thống chiến lược “đánh vào lòng người”, qua tác phẩm “Bình Ngô đại cáo” đã thể hiện rõ điều đó.

Tóm lại, nếu như trong chiến đấu mặt trận quân sự là yếu tố quyết định giành thắng lợi trong cuộc chiến tranh thì các mặt trận chính trị, ngoại giao, địch vận càng tô đậm thêm những thắng lợi vẻ vang đó, nhưng mỗi mặt trận đều có tầm quan trọng như nhau, chúng ta không được xem nhẹ hoặc chỉ coi trọng một mặt trận nào, phải luôn kết hợp các mặt trận với nhau trong quá trình tác chiến đánh bại từng ý đồ xâm lược của kẻ thù, cho dù kẻ thù đó có mạnh hơn ta nhiều lần, để lại cho hậu thế những bài học quý báo trong nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa.

Tài liệu tham khảo:

- Huỳnh Thị Ngọc Nhẫn, Đồ dùng dạy học lớp 10, 11 (chương trình THPT).

- Giáo trình giáo dục Quốc phòng - An ninh, tập 1, NXB Giáo dục Việt Nam.

- Nguyễn Nhã – Huy Cầu, Kể chuyện bốn nghìn năm giữ nước (1977), NXB Quân đội nhân dân.

- Vũ Ngọc Khánh, Lê Lợi con người và sự nghiệp, NXB Thanh Hoá.

- Nguyễn Thế Long, Những mẩu chuyện bang giao trong lịch sử Việt Nam, tập 1, tập 2, NXB Giáo dục.

- Hoàng Minh Thảo, Tìm hiểu về tổ tiên ta đánh giặc (1985), NXB Quân đội nhân dân.